Chương 50
Khảo Sát ( Nhất )
|Linh Điểm Lãng Mạn
Phù Lực nghiêng người ngồi ở đầu thuyền, hai chân vắt vẻo qua lan can, thả lỏng trên mép thuyền. Mũi thuyền không ngừng rẽ sóng, nhưng Phù Lực lại thấy thân thuyền chỉ rung lắc rất nhẹ. Trước kia, Phù Lực từng theo trưởng bối ra biển, nhưng chỉ một lần duy nhất. Hắn không hề thích cảm giác chòng chành trên biển, bởi vì đi thuyền độc mộc trên sông Điền Độc hoàn toàn khác biệt với việc lênh đênh trên biển. Kể từ đó, Phù Lực nảy sinh nỗi sợ vô hình với việc đi thuyền ra khơi. Nhưng con thuyền hôm nay lại xóa sạch ấn tượng tiêu cực ấy trong lòng hắn.
Trong ấn tượng của Phù Lực, thuyền buồm của người Hán hẳn phải giống những chiếc thuyền gỗ hắn thấy ở cảng Thắng Lợi: thân tàu trên rộng dưới hẹp, cột buồm tùng mộc thô cao cùng những cánh buồm dày nặng. Thế nhưng, những người tự xưng là “Hải Hán” này lại đóng ra loại thuyền hoàn toàn khác biệt: thân thuyền to rộng, mạn tàu thấp bé, buồm nhìn lại nhẹ và mỏng. Không biết con thuyền này làm từ vật liệu gì, nhưng lướt trên biển lại cực kỳ nhanh. Vừa ra khỏi cảng Thắng Lợi, nó đã bỏ xa chiếc thuyền Tiểu Quảng đi trước.
“Ngạc nhiên sao? Lần đầu tiên ta lên thuyền này cũng có vẻ mặt y hệt ngươi.”
Phù Lực nghe vậy nghiêng đầu nhìn, thấy người nói là Vệ Tiểu Bảo, bèn mỉm cười thân thiện, ra hiệu cho Vệ Tiểu Bảo ngồi xuống bên cạnh. Vệ Tiểu Bảo hiện mỗi tối cũng theo học tại trường học tạm thời ở Ninh Kỳ, nên hai người đã quen biết nhau. Dù không cùng tộc, nhưng họ trạc tuổi nhau, một người mười lăm, một người mười sáu, giao tiếp không có trở ngại gì lớn nên nhanh chóng kết bạn.
“Ngươi từng lên thuyền này rồi ư?” Phù Lực tò mò hỏi.
“Con thuyền này tên là 『 Phi Tốc hào 』, ta đã đi biển với nó nhiều lần rồi. Người Hải Hán dẫn ta ra khơi đánh cá, lưới của họ lợi hại lắm, một mẻ có thể bắt được mấy trăm cân cá, thậm chí còn lưới được cả cá mập to thế này nữa...” Vệ Tiểu Bảo vừa nói vừa dang hai tay, khoa tay múa chân kích cỡ rất khoa trương, giọng điệu không giấu vẻ khoe khoang.
“Cơm hải sản họ làm cũng rất ngon.” Phù Lực lập tức liên tưởng đến món cơm hải sản thơm phức mà chỉ người Hải Hán mới được ăn, hắn từng may mắn được nếm hai lần. Tất nhiên, nếu không phải vì thân phận đặc biệt và được Ninh Kỳ ưu ái, thì hắn cũng chỉ có thể đứng nhìn như Vệ Tiểu Bảo mà thôi.
Vệ Tiểu Bảo nghe vậy nuốt nước miếng, không phục nói: “Hôm qua Ninh tiên sinh bảo, đợi xong nhiệm vụ lần này, ngài ấy sẽ thưởng cho ta một bữa cơm hải sản!”
Trong lúc nói chuyện, “Phi Tốc hào” đã vòng qua mũi Lộc Hồi, mà lúc này chiếc thuyền Tiểu Quảng kia thậm chí còn chưa rời khỏi mũi Du Lâm. Sau khi vòng qua mũi Lộc Hồi, “Phi Tốc hào” dọc theo bờ biển bán đảo Lộc Hồi hướng về phía bắc tiến vào.
“Muốn đến thành Nhai Châu, chẳng phải nên đi về hướng tây sao?” Phù Lực dù không ra biển nhiều, nhưng khả năng định hướng bằng mặt trời vẫn có. Thấy hướng đi của thuyền có chút lạ, hắn không khỏi cảm thấy kỳ lạ.
“Cái này ngươi không biết rồi!” Vệ Tiểu Bảo lập tức chộp lấy cơ hội gỡ gạc một bàn: “Thuyền chúng ta không phải đi thẳng đến Nhai Châu, mà là muốn dừng lại dọc đường. Các lão gia Hải Hán nói là muốn xem những nơi này... ừm... đúng rồi, giá trị khai phá! Không sai, chính là giá trị khai phá.”
Hai thiếu niên nhất thời không hiểu “giá trị khai phá” rốt cuộc là ý gì, nghi vấn này đành phải chờ sau khi từ Nhai Châu trở về mới hỏi Ninh tiên sinh.
Mục đích của đội hành động khi chọn tuyến đường hướng bắc này rất rõ ràng. Họ muốn tận dụng đường thủy để thâm nhập vào nội thành Tam Á đời sau, thu thập dữ liệu về tình hình địa lý thủy văn dọc sông Tam Á và sông Lâm Xuân.
Trong quy hoạch của Ủy ban chấp hành, khu vực dọc tuyến từ cảng Thắng Lợi đến mỏ sắt Điền Độc sau này sẽ được phát triển thành căn cứ công nghiệp và quân sự chủ chốt của nhóm xuyên không. Mặc dù các ngành công nghiệp kết hợp than đá và sắt có thể sẽ chuyển dịch về phía bắc sau khi khai thác mỏ sắt Thạch Lộc và mỏ than Hòn Gai, nhưng một số sản phẩm công nghiệp “công nghệ cao” và hóa chất, đặc biệt là ngành sản xuất súng đạn vốn bị quản lý nghiêm ngặt, vẫn sẽ tập trung sản xuất tại khu vực đất liền thượng nguồn sông Điền Độc. Làm vậy là để tránh việc sau này khi địa bàn kiểm soát của nhóm xuyên không mở rộng, có kẻ nảy sinh ý đồ “độc lập” – không có công nghiệp hiện đại chống lưng, kẻ nào muốn tự lập đội ngũ bên ngoài thì chỉ có con đường chết.
Còn nội thành Tam Á phồn hoa đời sau sẽ được quy hoạch thành khu thương mại, khu hành chính và khu dân cư. Đặc biệt là địa hình “ngoài hẹp trong rộng” tại nơi giao thoa giữa cửa sông Tam Á và cửa sông Lâm Xuân, đúng là bến cảng thiên nhiên mà Ủy ban chấp hành hằng mong đợi. Lần trước La Thăng Đông dẫn quân Minh đột kích, chính là đổ bộ tại cảng này rồi từ đường bộ tiến vào làng chài Du Lâm ẩn náu. Sau khi thu được thuyền hải thương, các thủy thủ cũng từng điều tra sơ bộ tình hình thủy văn nơi đây, còn lần này đến là để thu thập dữ liệu cho việc khai phá tổng hợp sau này.
“Phi Tốc hào” đến gần cửa sông thì bắt đầu hạ buồm giảm tốc, dần dần điều chỉnh hướng đi. Đoạn hẹp nhất của thủy đạo dẫn vào cảng nội hà này chỉ rộng hơn trăm mét, hẹp hơn cả cửa hẹp ngoài cảng Thắng Lợi, hơn nữa đoạn cửa hẹp này dài đến một dặm. Nếu ở đây mà còn muốn chạy tốc độ cao thì thật sự sẽ có nguy cơ mắc cạn. Hầu như tất cả mọi người đều đổ dồn lên boong tàu để quan sát địa hình. Các thủy thủ cầm theo dây dọi và các công cụ khác, đứng bên mạn thuyền bắt đầu đo độ sâu và tốc độ dòng chảy. Theo dữ liệu thủy văn đời sau, tuyến đường thủy vào cảng này tuy rất hẹp nhưng độ sâu lại rất tốt, đủ để chứa các tàu trọng tải vạn tấn của đời sau thông hành. Hiện tại xem ra, tình hình thủy văn nơi đây không khác biệt nhiều so với mấy trăm năm sau. Nhìn khung cảnh không một bóng người trên bờ, lại nghĩ đến việc những người này mới rời khỏi đây hơn hai mươi ngày trước, các thành viên xuyên không trên thuyền đều có cảm giác như đã trải qua mấy đời.
Nhan Sở Kiệt chỉ vào ngọn đồi ở bờ nam cửa hẹp giải thích với người bang Bắc Mỹ: “Đây là Lĩnh phía Nam, trước kia khi đi du lịch Tam Á ta từng lên đó, trên đỉnh núi có một công viên nhỏ, từ đó có thể nhìn xuống toàn bộ nội thành Tam Á, phong cảnh rất tuyệt.”
Những lời Nhan Sở Kiệt nói tất nhiên không chỉ để hồi tưởng lại những ngày trước khi xuyên không. Tom Vương đã hiểu ý tại ngôn ngoại của hắn, gật đầu nói tiếp: “Địa thế nơi này quả thực rất tốt, sau này chúng ta có thể xây dựng công sự phòng ngự trên sườn núi. Nhìn khoảng cách này xem, chúng ta chỉ cần súng trường là có thể phong tỏa tuyến đường ra vào cảng này!”
Kiều Chí Á huýt sáo một tiếng: “Lần trước đi ngang qua đây ta đã nói rồi, nơi này chẳng khác nào kênh đào Panama của Tam Á.”
Bang Bắc Mỹ lần trước áp giải thuyền hải thương về cảng Thắng Lợi đã từng đi qua cửa hẹp này. Chỉ là khi đó vội vàng, trên thuyền lại có mấy tù binh thủy thủ nên mọi người không kịp quan sát địa hình cẩn thận như hôm nay.
Sau khi qua cửa hẹp, bên trái là cửa sông Tam Á, cách một đảo nhỏ hình hẹp dài ở giữa sông là cửa sông Lâm Xuân. Hai dòng sông giao hội tại nơi tiếp giáp giữa bán đảo Lộc Hồi và đất liền đảo Hải Nam, tạo thành một bến cảng hình thận khổng lồ. Bến cảng này bao gồm cả vùng ven bờ của hai cửa sông, trong tương lai đều có thể xây dựng thành cảng, như vậy ít nhất có thể cùng lúc neo đậu hàng trăm con tàu biển.
“Phi Tốc hào” dọc theo cảng vòng hành, sau đó hướng bắc tiến vào sông Lâm Xuân. Lúc này, hòn đảo nhỏ hẹp giữa sông Tam Á và sông Lâm Xuân vẫn chưa lớn bằng đời sau, chỗ rộng nhất cũng chỉ bốn năm trăm mét, nhưng chiều dài lại không khác biệt lắm, chừng hơn 3000 mét. “Phi Tốc hào” vòng quanh đảo giữa sông một vòng lớn, tại một điểm giao hội khác ở thượng nguồn tiến vào sông Tam Á, rồi xuôi dòng sông Tam Á mà xuống.
Ở khu vực đất liền thượng nguồn, quả nhiên thấy ven bờ hai con sông có lác đác vài hộ dân, nhưng diện tích khai hoang dường như không lớn. Vệ Đại Sơn giải thích rằng, đó là vì dù có khai hoang ở đây, nông dân vẫn phải đến Nhai Châu làm thủ tục đăng ký đất đai, tất nhiên không thể thiếu việc nộp phí và gánh vác các loại thuế má tương ứng. Mà nơi này vì xa Nhai Châu nên dù đã khai hoang thì giá trị thị trường cũng rất thấp, khai hoang quy mô lớn lại phải nộp nhiều tiền cho quan phủ, đối với nông dân mà nói thì không mấy có lợi. Tất nhiên, có lẽ sẽ có “kẻ khôn lỏi” cố ý không đi đăng ký, nhưng hậu quả là một khi bị lại dịch đi thu thuế phát hiện, không chỉ ruộng đất bị sung công mà chủ nhân còn bị phạt làm khổ dịch, đúng là mất nhiều hơn được.
Những lời Vệ Đại Sơn nói mang lại cho Cao Hoan, đặc phái viên của Bộ Nông nghiệp, một vài gợi ý. Làm thế nào để thực hiện “cải cách ruộng đất” trong thời đại đặc thù này luôn là hạng mục nghiên cứu mà Ủy ban chấp hành và Bộ Nông nghiệp hết sức quan tâm. Vào thời cuối Minh, vì nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thôn tính đất đai nghiêm trọng, khiến nông dân mất đi ruộng đất và tài sản ngày càng nhiều, cộng thêm thiên tai nhân họa cuối cùng tạo thành cục diện loạn lạc thời cuối Minh. Ý tưởng ban đầu của Ủy ban chấp hành là áp dụng chính sách đất đai giống như trong nước đời sau tại khu vực cai trị, tức là quốc hữu hóa toàn bộ đất đai, dù là nông dân hay địa chủ, cá nhân chỉ có quyền sử dụng, còn quyền sở hữu chỉ nằm trong tay chính phủ.
Làm vậy tất nhiên sẽ đụng chạm đến lợi ích của giai cấp thống trị thời đại này và gây ra phản kháng dữ dội, nên Ủy ban chấp hành không định thực hiện một lần là xong, mà muốn thực hiện từng bước theo giai đoạn. Bước đầu tiên là thiết lập khu vực cai trị vững chắc tại những vùng thưa dân, tức là tuyến từ cảng Thắng Lợi đến mỏ sắt Điền Độc; bước thứ hai là kết hợp “chế độ công xã nhân dân” và “chế độ cấp bậc lao công” trong khu vực cai trị, để quần chúng từ từ tiếp nhận ý nghĩa của quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai; bước thứ ba, sau khi mở rộng phạm vi cai trị, thông qua các phương thức như tiếp quản, tịch thu, chuộc lại, trưng dụng, từng bước thay đổi tính chất đất đai tư hữu thành đất quốc hữu; bước cuối cùng là sau khi thiết lập chính quyền, thông qua lập pháp để đưa chế độ quốc hữu hóa đất đai trở thành một trong những quốc sách, dùng pháp luật để đảm bảo chính sách được thực thi.
Trong khu vực mà đội hành động khảo sát, những vùng đồng bằng màu mỡ được hình thành qua vô số năm bồi đắp bởi hai con sông lớn tất nhiên không bị bỏ qua. Bộ Nông nghiệp từ trước khi xuyên không đã lập kế hoạch khai phá xây dựng nhiều nông trường lớn nhắm vào khu vực đồng bằng đất liền Tam Á. Đặc biệt là khu vực thượng nguồn sông Tam Á, địa thế bằng phẳng, sông ngòi chằng chịt, tưới tiêu thuận tiện, rất thích hợp trồng lương thực. Ngay cả ở Tam Á đời sau với không khí du lịch thương mại dày đặc vẫn còn lưu giữ hàng vạn mẫu ruộng tốt, hơn nữa còn là khu vực trọng điểm nghiên cứu lúa nước lai. Sau khi xuyên không đến thời đại này, Ủy ban chấp hành đã định vị nơi đây là khu vực đảm bảo lương thực cho Tam Á tương lai.